Đuối nước vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em tại Việt Nam. Phần lớn các vụ việc xảy ra bất ngờ, âm thầm và chỉ trong thời gian rất ngắn, để lại nỗi đau dai dẳng cho gia đình và cộng đồng. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp hoàn toàn có thể phòng tránh nếu trẻ được trang bị kỹ năng bơi an toàn, kỹ năngg xử lý tình huống khi gặp nguy hiểm dưới nước và chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống đuối nước.
Trang bị cho trẻ kỹ năng bơi an toàn để phòng tránh đuổi nước
Tình hình đuối nước ở trẻ em
Tại Việt Nam, giai đoạn 2021–2025, trung bình mỗi năm có hơn 1.800 trẻ em tử vong do đuối nước. Dù số ca đã giảm qua từng năm, đuối nước vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em và người chưa thành niên, chiếm khoảng 50% tổng số ca tử vong do tai nạn thương tích.
Phần lớn các vụ đuối nước xảy ra tại cộng đồng (76,6%), tiếp đến là tại gia đình (22,4%) và trường học (1%). Nhóm trẻ từ 0–4 tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất, thường gặp tai nạn ở khu vực gần nhà như ao hồ, sông suối, kênh rạch, vũng nước hoặc bể chứa nước công trình. Trẻ từ 6–15 tuổi chủ yếu bị đuối nước khi vui chơi, bơi lội ở các vùng nước mở tự nhiên hoặc khi tắm biển.
Đáng chú ý, số trẻ nam tử vong do đuối nước cao gấp đôi trẻ nữ, nhiều trường hợp xảy ra khi các em cố gắng cứu bạn. Trẻ em khu vực nông thôn có nguy cơ đuối nước cao gấp hai lần so với thành thị; trong đó, hơn một nửa số ca tử vong thuộc về các gia đình nghèo ở nông thôn.
Nguyên nhân tình trạng đuối nước ở trẻ em
Đuối nước ở trẻ em xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đan xen giữa yếu tố cá nhân, gia đình, môi trường sống và công tác quản lý. Việc nhận diện đầy đủ các nguyên nhân là cơ sở quan trọng để triển khai các giải pháp phòng ngừa hiệu quả.
Nguyên nhân từ phía trẻ em
Trẻ em chưa ý thức đầy đủ về nguy cơ đuối nước và còn hạn chế về kỹ năng an toàn trong môi trường nước. Điều này xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý theo từng độ tuổi. Phần lớn trẻ em hiếu động, tò mò, thích khám phá và đặc biệt yêu thích vui chơi với nước. Với trẻ dưới 5 tuổi rất dễ bị thu hút bởi các vật chứa nước trong gia đình như chậu, chum, vại, bồn tắm, bể cá… Nếu không được giám sát chặt chẽ, trẻ có thể ngã vào nước và không có khả năng tự thoát ra. Thời gian dẫn đến đuối nước có thể xảy ra rất nhanh, chỉ trong vòng 1–2 phút. Ở trẻ lớn hơn có xu hướng vận động nhiều, thích khám phá, đôi khi có hành vi liều lĩnh khi bơi lội, vui chơi ở sông, hồ, biển nhưng lại chưa nhận thức đầy đủ về hiểm họa từ dòng nước sâu, nước xoáy, khu vực sạt lở… và thiếu kỹ năng xử lý tình huống nguy cấp.
Bên cạnh đó, một số bệnh lý làm tăng nguy cơ đuối nước ở trẻ em. Trẻ mắc động kinh có nguy cơ chìm nước cao hơn ở mọi môi trường như bồn tắm, bể bơi, ao hồ. Ngoài ra, ở những người bị bệnh loạn sản thất phải ở tim, bao gồm hội chứng QT dài (bơi lội có thể gây ra rối loạn nhịp tim gây chết đuối không rõ nguyên nhân ở những người mắc chứng rối loạn đó).
Thiếu kiến thức và kỹ năng an toàn cũng là một trong những nguyên nhân gây nên những tai nạn đuối nước thương tâm ở trẻ. Để an toàn trong môi trường nước, trẻ cần được trang bị:
- Kiến thức nhận biết nguy cơ tại bể bơi, sông hồ, biển, đặc biệt trong mùa mưa lũ.
- Kỹ năng bơi an toàn.
- Kỹ năng xử lý tình huống như chuột rút, gặp vùng nước xoáy.
- Kỹ năng cứu đuối an toàn, phù hợp với thể chất và khả năng của mình. Thiếu sự giám sát của người lớn
Sự giám sát của người lớn đóng vai trò quyết định trong phòng, chống đuối nước. Nhiều vụ việc thương tâm xảy ra khi: Người trông trẻ là anh, chị còn nhỏ tuổi; Người giám sát không biết bơi, không có kỹ năng cứu đuối; Sự lơ là, chủ quan trong sinh hoạt hằng ngày.
Ngoài ra, nguy cơ đuối nước tăng cao khi người có trách nhiệm quản lý trẻ tại trường học, bể bơi, bãi biển hoặc phương tiện giao thông đường thủy không thực hiện đầy đủ các quy định an toàn, thiếu tinh thần trách nhiệm trong khi làm nhiệm vụ.
Môi trường xung quanh trẻ không an toàn
Ở một số gia đình, các vật dụng chứa nước như chum, vại nước, chậu nước, lu, phi nước, bể chứa nước không được che đậy cẩn thận; hố đào sâu của công trình xây dựng không có biển cảnh báo và rào chắn; thành giếng không đủ độ cao cần thiết; bể bơi, khu vực tắm biển không có người trông coi hoặc người trông coi không biết bơi, thiếu thiết bị cứu hộ, không có kỹ năng cứu đuối, không có biển cảnh báo nguy hiểm...
Những yếu tố này nếu không được kiểm soát sẽ tạo thành “bẫy nước” nguy hiểm đối với trẻ em. Tác động của thiên tai, mưa bão, lũ lụt
Trong điều kiện mưa bão, lũ lụt, nước dâng nhanh, dòng chảy mạnh và xoáy sâu. Trẻ em do hạn chế về thể lực và kỹ năng nên dễ hoảng loạn, bị cuốn trôi xuống kênh rạch, sông suối, cống thoát nước. Một số trường hợp trẻ chủ quan đi học,bắt cá, thu gom tài sản khi nước lũ dâng cao, dẫn đến tai nạn đuối nước đáng tiếc.
Trẻ tham gia giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn
Phương tiện thuỷ không bảo đảm an toàn kỹ thuật, thiếu thiết bị an toàn như áo phao, áo phao cho trẻ em, xuồng cứu hộ, phương tiện chở quá tải là nguyên nhân mất an toàn khi chở trẻ em đi lại trên sông nước. Người giám sát trẻ, nhân viên trên tàu, phà cũng chưa thật đề cao ý thức chấp hành các quy định an toàn khi tham gia giao thông đường thuỷ, không nhắc nhở trẻ mặc áo phao đúng quy định.
Biện pháp phòng, chống đuối nước cho trẻ em Tại gia đình
Đối với các vật dụng chứa nước tại gia đình như; xô, chậu, thùng nước cần có nắp đậy an toàn, đặt nơi cao ráo, xa tầm tay trẻ em. Giếng nước: phải uôn luôn đậy nắp. Không bao giờ để trẻ em chơi đùa gần giếng nước, đặc biệt với những giếng nước có thành giếng thấp.
Nhà tắm gia đình cần đóng cửa nhà tắm ngay sau khi sử dụng. Không được để trẻ em một mình trong bồn tắm, ngay cả khi chỉ một thời gian rất ngắn. Đồng thời, giữ sàn nhà tắm khô ráo, sử dụng các miếng lót chống trượt trong bồn tắm để tránh nguy cơ trơn trượt dẫn đến té ngã cho trẻ em.
Bể bơi gia đình: Luôn giám sát trẻ khi bơi, nên có ít nhất 02 người lớn giám sát khi nhiều trẻ em bơi cùng lúc. Lắp đặt hàng rào chắc chắn, các thanh chắn đủ khít nhau để ngăn trẻ có thể lọt qua và độ cao hàng rào tối thiểu 1,2m. Khóa cửa bể bơi khi không sử dụng, đặc biệt vào buổi tối.
Tại cộng đồng
Luôn luôn giám sát trẻ em khi trẻ ở gần sông, hồ, ao, suối. Dạy trẻ em biết bơi và các kỹ năng an toàn trong môi trường nước. Đồng thời trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp với độ tuổi và vóc dáng của trẻ. Cần đặt biển cảnh báo khu vực nguy hiểm, khu vực nước sâu, khu vực có dòng chảy xiết để nâng cao ý thức cho người dân và trẻ em
Các kênh mương, cống rãnh: Lắp đặt rào chắn xung quanh kênh mương, cống rãnh. Và không để trẻ em đến gần chơi đùa, nghịch nước để tránh nguy cơ bị đuối nước và nhiễm khuẩn.
Các bể bơi công cộng: Cầm tuân thủ các quy định an toàn của bể bơi. Luôn luôn giám sát trẻ em khi trẻ ở bể bơi, nên có ít nhất 02 người lớn trở lên giám sát khi nhiều trẻ em bơi cùng lúc. Trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp với độ tuổi và vóc dáng của trẻ. Cho trẻ em tham gia các lớp học bơi an toàn.
Biển: Luôn luôn giám sát và trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp với độ tuổi và vóc dáng của trtrẻ em khi trẻ tắm biển. Không để trẻ em có vấn đề sức khỏe xuống tắm biển hoặc vào thời điểm trời nắng gắt hay điều kiện thời tiết xấu. Chỉ để trẻ em tắm biển ở những khu vực cho phép theo thời gian quy định với sự có mặt của nhân viên cứu hộ. Đặc biệt tuyệt đối không được tắm ở các vùng nước nguy hiểm có tín hiệu cảnh báo.
Vùng trũng, nơi ngập nước: Lắp đặt các biển cảnh báo nguy hiểm tại các khu vực ngập nước. Không để trẻ em chơi đùa ở vùng trũng, nơi ngập nước sau do bão, lũ lụt gây ra. Cần dạy trẻ em các kỹ năng an toàn khi đi qua vũng trũng, nơi ngập nước do bão, lũ lụt để lại./.